CHI CAN CANH

PHỔ KÝ







NGUYỄN ĐẶNG TĂNG

(Cháu 5 đời Nguyễn Đặng Huệ phụng thờ)


12) Thập nhị thế tổ khảo tiền hương đình Kỳ hào thăng điệt lão, bản thôn Văn hội Tuýn trưởng,  Nguyễn Đặng công thụy cương nghị phủ quân.
Tên húy:                          Nguyễn Đặng Tăng
Tên gọi:                               ông Cố Canh
                                           (1836 – 1906)
Ông là con trai thứ sáu ông Nguyễn Đặng Phái và con trai thứ ba bà kế thất  Nguyễn Thị Minh. Sinh giờ thìn ngày 17 tháng 11 năm Bính Thân (1836). Lúc còn nhỏ theo việc học hành. Bản tính nhã trực. Tư chất thông minh. Cha mất sớm, ở với mẹ. Lớn lên làm hương lý trong làng. Làm nên giàu có, xây dựng nên cơ đồ. Ruộng đất mười ba mẫu. Trâu bò chín mười con. Lúc tuổi già làng Văn cử lên làm Tuýn trưởng. Vợ cả người trong xã, thôn Tri Lệ. Con gái thứ ba ông Phạm Đức Trạch và bà Đào Thị Úy là Phạm Thị Hạnh. Sinh hạ 3 người  con gái. Vợ kế thất người trong xã, thôn Chi Lưu. Con gái thứ hai ông Nguyễn Duy Cửu là  Nguyễn Thị Đường. Sinh hạ trai gái 3 người. Vợ thứ thất người trong  xã, thôn Thượng Nguyên. Con gái ông Nguyễn Duy Tư. Sinh hạ 1 người con gái. Tên thường gọi ông Cố Canh. Thọ được 71 tuổi. Từ trần ngày 15 tháng giêng năm Bính Ngọ, tức ngày 8 tháng 2 năm 1906. Mộ trước táng ở ruộng Cố Hồ xứ Nương Cộ. Năm 1965 cất về nghĩa địa xứ Nương Cộ.

Thập nhị thế tổ tỉ tiền thừa phu chức Nguyễn chính thất, Phạm thị hàng tam nhụ nhân.
Tên húy:                            Phạm Thị Hạnh
Tên gọi:                                bà Cố Canh
                                           (1837 – 1865)
Bà người trong xã, thôn Tri Lệ. Con gái thứ ba ông Phạm Đức Trạch và bà Đào Thị úy. Sinh giờ ngọ ngày 24 tháng 5 năm Đinh Dậu (1837). Bản tính hiền lành. Chuyên cần nông nghiệp. Sinh hạ 3 người con gái. Tên thường gọi bà  Cố Canh. Thọ được 29 tuổi. Từ trần ngày 14 tháng 6 năm Ất Sửu (1865). Mộ trước táng ở xứ Cồn Bói. Năm 1965 cất về nghĩa địa xứ Nương Cộ.

Thập nhị thế tổ tỉ tiền thừa phu chức Nguyễn kế thất, Nguyễn thị hàng nhị hiệu từ thuận nhụ nhân.
Tên húy:                          Nguyễn Thị Đường
Tên gọi:                                 bà Cố Sợi
                                           (1841 – 1896)
Bà người trong xã, thôn Chi Lưu. Con gái thứ   hai ông Nguyễn Duy Cửu. Sinh năm Tân Sửu (1841). Tính tình  hiền hậu. Kính trên nhường dưới. Siêng năng lao động. Tiết kiệm ăn tiêu. Làm nên giàu có. Tậu ruộng mua trâu. Khuôn phép gia phong, ở ăn lịch thiệp. Sinh hạ trai gái 3 người. Tên thường gọi bà Cố Sợi. Thọ được 56 tuổi. Từ trần ngày 20 tháng 3 năm Bính Thân (1896). Mộ trước táng ở xứ Nhà Rải. Năm 1965 cất về nghĩa địa xứ Nương Cộ.

Thập nhị thế tổ tỉ tiền thừa phu chức Nguyễn trắc thất, Nguyễn thị nhụ nhân.
Tên húy:                        Nguyễn Thị Tắc (Đị)
Bà người trong xã, thôn Thượng Nguyên. Con gái ông Nguyễn Duy Tự. Sinh hạ 1 người  con gái. Kỵ ngày 14 tháng 9. Mộ táng ở  xứ Túi Mắt.


ĐÌNH LÀNG TRÍ NANG

“Cây đa, bến nước, sân đình,
Đi mô quên được nghĩa tình quê hương”


1. Kiến trúc Đình làng Trí Nang trước đây
Đình Làng Trí Nang tọa lạc tại làng Trí Nang xã Cổ Kênh, nay là thôn Trí Nang xã Thạch Kênh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh.
Đình được xây dựng từ xa xưa, hàng mấy trăm năm rồi. Trước đây đình làm bằng gỗ, lợp tranh.
Năm Mậu Dần (1938), dân làm lại, xây tường, lợp ngói âm dương. Đình có ba gian, hai nghè trùng diêm, chiều dài 10 mét, chiều rộng 3 mét. Diện tích trong lòng 80 m2.
Đình làng làm theo kiểu tứ trụ, sáu cột cái, tám cột con. Cột cái cao 14 thước. Cột, đàng hạ, xà gồ, rui mèn, 12 cánh cửa pha nô đều bằng gỗ lim cả. Gian giữa có hai đầu rồng hai bên chầu lại. Nền lát bằng gạch hoa. Gian giữa có hai bàn thờ, một tọa hương án sơn son thiếp vàng. Trên tọa hương án có bộ thất sự bằng đồng, gồm một lư hương, hai cọc sáp, hai cọc đèn, hai con hạc do Hội buôn muối dân làng cúng.
Hai gian hai bên có sáu bàn thờ bằng gỗ lim, mỗi bàn dài 2 mét, rộng 1,4 mét do Hội người dân trong làng đi Lào về cúng.
NGHI LỄ VÀ VĂN CÚNG LỄ TANG


"TỬ GIẢ DĨ ĐẮC TÁNG VI VINH"

        "Thọ Mai Gia Lễ" là gia lễ nước ta, dựa theo Chu Công Gia Lễ là gia lễ thời xưa của Trung Quốc, nhưng có sáng tạo, không rập khuôn máy móc theo Tàu.
Tác giả của "Thọ Mai Gia Lễ" là Hồ Sĩ Tân (1690-1760), hiệu Thọ Mai, người làng Hoàn Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, đậu Tiến sĩ năm 1721 (năm thứ 2 triều vua Bảo Thái), làm quan đến chức Hàn lâm Thị chế.
"Thọ Mai Gia Lễ" có trích dẫn một phần của Hồ Thượng thư gia lễ. Hồ Thượng thư tức Hồ Sĩ Dương (1621-1681), cũng người làng Hoàn Hậu, đậu tiến sĩ năm 1652 (năm thứ 4 triều vua Khánh Đức), chức Thượng thư bộ Hình, tước Duệ Quận công. 
Theo lời dạy của thánh nhân: "Lễ dung hòa là quí", "Lễ phải tiết kiệm, chớ nên xa xỉ. Tang phải giản dị, chớ nên cẩu thả", dựa theo cuốn "Thọ Mai Gia Lễ", được viết năm Mậu Thìn (1928) đời vua Bảo Đại, tôi đã soạn lại để con cháu trong họ hiểu biết lễ nghi, phổ biến cho nhau và áp dụng trong tang lễ. 
Theo “Thọ Mai Gia Lễ”, các ngày lễ cứ đúng ngày mà làm, không có sự chuyển dịch tùy tiện theo lời thầy lễ, thầy bói. Chỉ trừ ngày làm lễ an táng và ngày làm lễ trừ phục cần chọn ngày lành. Không ai có thể chọn ngày chết, vậy nên từ xưa tới nay, hàng năm cứ đến ngày mất thì làm giỗ, dù cho có những năm, ngày đó rất xấu, có cả trùng phục, trùng tang, sát chủ, quả tú, cô thần... Lễ Chung thất, Tốt khốc, Tiều tường, Ðại tường cứ theo đúng ngày mà làm lễ. Khi đó con cháu ở xa nhớ ngày về làm lễ, thân nhân ở chỗ khác sắm sửa lễ đúng ngày tới dự. Lưu ý tang tế theo ngày định sẵn, thân bằng, cố hữu ai lưu luyến đến thăm viếng, không đợi thiệp mời như lễ mừng, lễ cưới, không có chuyện “Hữu thỉnh hữu lai, vô thỉnh bất đáo” (mời thì đến, không mời thì thôi).

Ban biên tập mời các bậc cao niên và con cháu trong họ xem  Nghi tiết và văn cúng Lễ tang Cố Lan soạn tại trang web
        https://drive.google.com/file/d/0B6zVuqSctNWBbVBIcUtBNl91UVE/edit?usp=sharing. Mọi chỉ giáo và góp ý xin gửi về địa chỉ nguyenhueyen@yahoo.com. Trân trọng cám ơn.


VII. LỄ CHUNG THẤT, BÁCH NHẬT

1. Nghi tiết
Tự lập
Xuất chủ
Cử ai
Ai chỉ
Giáng thần
Nghệ quán tẩy sở
Quán tẩy
Thuế cân
Nghệ hương án tiền
Quỵ
Thượng hương
Loại tửu
Phủ phục
Hưng
2 lạy
Hưng
Bình thân
Phục vị
Tham thần
Cúc cung bái
4 lạy
Hưng
Bình thân
Tiến soạn
Sơ hiến lễ
Nghệ linh tọa tiền
Quỵ
Tế tửu
Điện tửu
Chước tửu
Phủ phục
Hưng
2 lạy
Hưng
Bình thân
Quỵ
Giai quỵ
Chuyển chúc
Độc chúc
Phủ phục
Hưng
Bình thân
Thiểu khước
Cử ai
Ai chỉ
Cúc cung bái
2 lạy
Hưng
Bình thân
Phục vị
Á hiến lễ
Nghệ linh tọa tiền
Quỵ
Tế tửu
Điện tửu
Chước tửu
Phủ phục
Hưng
2 lạy
Hưng
Bình thân
Phục vị
Chung hiến lễ
Nghệ linh tọa tiền
Quỵ
Tế tửu
Điện tửu
Chước tửu
Phủ phục
Hưng
2 lạy
Hưng
Bình thân
Phục vị
Hựu thực
Chủ nhân dị hạ giai xuất
Hạp môn
Chúc hì hầm
Hì hầm
Khai môn
Chủ nhân dị hạ các phục cựu vị
Điểm trà
Cáo lợi thành
Lợi thành
Từ thần
Cử ai
Cúc cung bái
4 lạy
Hưng
Bình thân
Ai chỉ
Phần chúc
Nạp chủ
Triệt soạn
Lễ tất


NGUYỄN TỘC ĐẠI TÔN PHỔ KÍ


Đây là cuốn gia phổ đầy đủ nhất , và cũng là cuốn gia phả cuối cùng của họ đại tôn, in ngày 20/06/2012, được Cố Lan đọc và tự cầm bút sửa chữa.
Bản sửa chữa, có chữ viết của Cố Lan, hiện nay Nguyễn Đặng Huệ, trưởng nam của Cố Lan cất giữ.
Ngày 02/07/2012, bản gia phổ này đã được in lại và lưu giữ tại Nhà thờ họ đại tôn.
Biên tập và chế bản không thể tránh khỏi sai sót. Mọi chỉ giáo, góp ý, sửa chữa, kính xin các bậc cao niên và con cháu trong họ gửi về theo địa chỉ nguyenhueyen@yahoo.com.
Kính mong các trung tôn, các tiểu tôn, các chi phái trong họ, căn cứ vào gia phả của họ đại tôn mà viết tiếp gia phả của trung tôn, tiểu tôn, chi phái mình một cách chính xác.


NGUYỄN TỘC ĐẠI TÔN PHỔ KÍ, và CÂY PHẢ HỆ
 xin xem và in các file pdf tại trang web https://drive.google.com/folderview?id=0B6zVuqSctNWBdFlPYXpXaEk1ZTg&usp=sharing



Ngày 17 tháng 2 năm 1990

Quyển gia phổ này là  một kho tàng  lịch sử vô giá mà các bậc tiền bối đã góp nhiều công sức xây dựng nên. Công lớn nhất là ông Nguyễn Phúc Phiên. Ông Nguyễn Phúc Phiên là  con trai đầu ông Nguyễn Phúc Phao và bà Đặng Thị Tô, sinh năm Đinh Tị (1797). Lúc còn nhỏ học tài biết rộng, thi cử nhiều khoa. Lớn lên làm cai hợp kiêm lý trưởng. Bút thảo tinh thông. Công bình chính trực. Trên quan phải nể. Dưới dân phải phục. Đã có công tìm kiếm những bút tích viết gia phả cho họ ta, và các họ trong làng trong xã, các xã khác.  Ông thọ được 62 tuổi. Từ trần ngày 16 tháng 10 năm Mậu Ngọ (1858).