CHI CAN CANH
PHỔ KÝ
NGUYỄN ĐẶNG TĂNG
(Cháu
5 đời Nguyễn Đặng Huệ phụng thờ)
In gia phả và cây phả hệ tại trang web https://drive.google.com/folderview?id=0B6zVuqSctNWBenZDMUNZUS12U2c&usp=sharing
12) Thập nhị thế tổ khảo tiền hương đình
Kỳ hào thăng điệt lão, bản thôn Văn hội Tuýn trưởng, Nguyễn Đặng công thụy cương nghị phủ quân.
Tên
húy: Nguyễn Đặng
Tăng
Tên
gọi: ông Cố
Canh
(1836
– 1906)
Ông là con trai thứ sáu ông Nguyễn Đặng Phái
và con trai thứ ba bà kế thất Nguyễn Thị
Minh. Sinh giờ thìn ngày 17 tháng 11 năm Bính Thân (1836). Lúc còn nhỏ theo
việc học hành. Bản tính nhã trực. Tư chất thông minh. Cha mất sớm, ở với mẹ.
Lớn lên làm hương lý trong làng. Làm nên giàu có, xây dựng nên cơ đồ. Ruộng đất
mười ba mẫu. Trâu bò chín mười con. Lúc tuổi già làng Văn cử lên làm Tuýn
trưởng. Vợ cả người trong xã, thôn Tri Lệ. Con gái thứ ba ông Phạm Đức Trạch và
bà Đào Thị Úy là Phạm Thị Hạnh. Sinh hạ 3 người
con gái. Vợ kế thất người trong xã, thôn Chi Lưu. Con gái thứ hai ông
Nguyễn Duy Cửu là Nguyễn Thị Đường. Sinh
hạ trai gái 3 người. Vợ thứ thất người trong
xã, thôn Thượng Nguyên. Con gái ông Nguyễn Duy Tư. Sinh hạ 1 người con
gái. Tên thường gọi ông Cố Canh. Thọ được 71 tuổi. Từ trần ngày 15 tháng giêng
năm Bính Ngọ, tức ngày 8 tháng 2 năm 1906. Mộ trước táng ở ruộng Cố Hồ xứ Nương
Cộ. Năm 1965 cất về nghĩa địa xứ Nương Cộ.
Thập nhị thế tổ tỉ tiền thừa phu chức
Nguyễn chính thất, Phạm thị hàng tam nhụ nhân.
Tên
húy: Phạm Thị
Hạnh
Tên
gọi: bà Cố
Canh
(1837
– 1865)
Bà người trong xã, thôn Tri Lệ. Con gái thứ
ba ông Phạm Đức Trạch và bà Đào Thị úy. Sinh giờ ngọ ngày 24 tháng 5 năm Đinh
Dậu (1837). Bản tính hiền lành. Chuyên cần nông nghiệp. Sinh hạ 3 người con
gái. Tên thường gọi bà Cố Canh. Thọ được
29 tuổi. Từ trần ngày 14 tháng 6 năm Ất Sửu (1865). Mộ trước táng ở xứ Cồn Bói.
Năm 1965 cất về nghĩa địa xứ Nương Cộ.
Thập nhị thế tổ tỉ tiền thừa phu chức
Nguyễn kế thất, Nguyễn thị hàng nhị hiệu từ thuận nhụ nhân.
Tên
húy: Nguyễn Thị
Đường
Tên
gọi: bà Cố
Sợi
(1841
– 1896)
Bà người trong xã, thôn Chi Lưu. Con gái
thứ hai ông Nguyễn Duy Cửu. Sinh năm
Tân Sửu (1841). Tính tình hiền hậu. Kính
trên nhường dưới. Siêng năng lao động. Tiết kiệm ăn tiêu. Làm nên giàu có. Tậu
ruộng mua trâu. Khuôn phép gia phong, ở ăn lịch thiệp. Sinh hạ trai gái 3
người. Tên thường gọi bà Cố Sợi. Thọ được 56 tuổi. Từ trần ngày 20 tháng 3 năm
Bính Thân (1896). Mộ trước táng ở xứ Nhà Rải. Năm 1965 cất về nghĩa địa xứ
Nương Cộ.
Thập
nhị thế tổ tỉ tiền thừa phu chức Nguyễn trắc thất, Nguyễn thị nhụ nhân.
Tên
húy: Nguyễn Thị Tắc
(Đị)
Bà người trong xã, thôn Thượng Nguyên. Con
gái ông Nguyễn Duy Tự. Sinh hạ 1 người
con gái. Kỵ ngày 14 tháng 9. Mộ táng ở
xứ Túi Mắt.
